Tuesday, November 8, 2016

Con chó và chai nước hoa



Le chien et le flacon
Con chó và chai nước hoa
« — Mon beau chien, mon bon chien, mon cher toutou, approchez et venez respirer un excellent parfum acheté chez le meilleur parfumeur de la ville. »

Et le chien, en frétillant de la queue, ce qui est, je crois, chez ces pauvres êtres, le signe correspondant du rire et du sourire, s'approche et pose curieusement son nez humide sur le flacon débouché ; puis, reculant soudainement avec effroi, il aboie contre moi en manière de reproche.

« — Ah ! misérable chien, si je vous avais offert un paquet d'excréments, vous l'auriez flairé avec délices et peut-être dévoré. Ainsi, vous-même, indigne compagnon de ma triste vie, vous ressemblez au public, à qui il ne faut jamais présenter des parfums délicats qui l'exaspèrent, mais des ordures soigneusement choisies. »
«— Con chó đẹp của ta, con chó dễ thương, con lu lu thân mến, lại gần đây nào và thử ngửi thứ nước hoa thượng hảo hạng ngoài phố ta mới mua đây này. »

Và con chó, ve vẩy cái đuôi (tôi nghĩ đó là dấu hiệu nơi những con vật tội nghiệp này để bày tỏ tiếng cười và nụ mỉm), lò dò lại gần và dí cái mũi ẩm của nó với vẻ tò mò lên chai nước hoa đã mở nút; rồi, đột nhiên lùi lại kinh hoảng, nó sủa gâu gâu có ý trách móc tôi.

«— Ôi! con chó khốn kiếp, nếu như ta cho ngươi một gói phân, chắc hẳn ngươi sẽ hít hà đã đíu và không chừng ngốn sạch cả gói rồi. Hóa ra, ngay cả nhà ngươi, bạn đồng hành tệ bạc trong cuộc đời buồn tẻ của ta, ngươi cũng giống như công chúng. Đừng bao giờ đưa cho họ những mùi hương tinh túy. Những mùi hương tế nhị đó chỉ làm cho họ bực tức cáu kỉnh. Hãy chọn lọc kĩ càng cho họ những đồ rác rưởi phế thải mà thôi.»


























Sunday, October 30, 2016

Mỗi người mang một con Quái trên lưng

 
Chacun sa Chimère
Mỗi người mang một con Quái trên lưng
Sous un grand ciel gris, dans une grande plaine poudreuse, sans chemins, sans gazon, sans un chardon, sans une ortie, je rencontrai plusieurs hommes qui marchaient courbés.



Chacun d'eux portait sur son dos une énorme Chimère, aussi lourde qu'un sac de farine ou de charbon, ou le fourniment d'un fantassin romain.



Mais la monstrueuse bête n'était pas un poids inerte ; au contraire, elle enveloppait et opprimait l'homme de ses muscles élastiques et puissants ; elle s'agrafait avec ses deux vastes griffes à la poitrine de sa monture ; et sa tête fabuleuse surmontait le front de l'homme, comme un de ces casques horribles par lesquels les anciens guerriers espéraient ajouter à la terreur de l'ennemi.



Je questionnai l'un de ces hommes, et je lui demandai où ils allaient ainsi. Il me répondit qu'il n'en savait rien, ni lui, ni les autres ; mais qu'évidemment ils allaient quelque part, puisqu'ils étaient poussés par un invincible besoin de marcher.



Chose curieuse à noter : aucun de ces voyageurs n'avait l'air irrité contre la bête féroce suspendue à son cou et collée à son dos ; on eût dit qu'il la considérait comme faisant partie de lui-même. Tous ces visages fatigués et sérieux ne témoignaient d'aucun désespoir ; sous la coupole spleenétique du ciel, les pieds plongés dans la poussière d'un sol aussi désolé que ce ciel, ils cheminaient avec la physionomie résignée de ceux qui sont condamnés à espérer toujours.



Et le cortège passa à côté de moi et s'enfonça dans l'atmosphère de l'horizon, à l'endroit où la surface arrondie de la planète se dérobe à la curiosité du regard humain.

Et pendant quelques instants je m'obstinai à vouloir comprendre ce mystère ; mais bientôt l'irrésistible Indifférence s'abattit sur moi, et j'en fus plus lourdement accablé qu'ils ne l'étaient eux-mêmes par leurs écrasantes Chimères.
Dưới một bầu trời mênh mông xám xịt, trên một cánh đồng bao la bụi tuyết, không đường lối, không cỏ xanh, chẳng gai góc, tôi gặp nhiều người còng lưng bước.

Mỗi một người trong bọn họ mang trên lưng mình một con Quái to tướng, nặng như một bao gạo hoặc một bịch than, hoặc như là cái bị đựng đồ lỉnh kỉnh của một bộ binh La Mã.

Nhưng con quái vật đâu chỉ là một khối nặng ù lì; trái lại, nó bao trùm và chèn ép người bằng những bắp thịt u nần dẻo dai lực lưỡng; nó lấy hai móng vuốt dài ngoằng vấu chặt vào ngực tấm thân đem làm đồ chuyên chở kia; và cái đầu quái đản của nó chất lên vừng trán con người, giống như một cái mũ trụ, trong những thứ mũ trụ khủng khiếp của những lính chiến thời xưa, những cái mũ trụ mà họ định dùng để làm tăng thêm nỗi hãi hùng nơi kẻ thù trước mặt.

Tôi hỏi một trong những người này, rằng họ đi đâu như vậy. Ông ta trả lời tôi ông chẳng biết gì hết, chính ông ta và những người khác cũng đều không biết gì hết; nhưng rõ ràng là họ đi đến một nơi nào đó, vì có một đòi hỏi không cưỡng lại được cứ thúc đẩy họ đi tới.

Hãy để ý điều lạ lùng này: không một người lữ hành nào có vẻ bứt rứt muốn chống lại con vật dữ tợn đang đeo lủng lẳng vào cổ và dán chặt trên lưng mình; người ta có cảm giác hình như mỗi người coi con vật kia như là một phần của chính mình. Tất cả những khuôn mặt mệt mỏi và nghiêm trọng này không hé ra một nỗi niềm tuyệt vọng nào cả; dưới vòm trời buồn bã, những bàn chân vùi trong cát bụi trên một mặt đất cũng hoang vu như bầu trời này, họ lần bước trên đường với vẻ mặt cam lòng chịu đựng của những kẻ bị kết án phải hi vọng mãi mãi.

Và đoàn người đi ngang bên tôi và chìm vào vng khí quyển ở cuối chân trời,  nơi mà mặt tròn của trái đất vuột khỏi tầm mắt tò mò của con người.

Và trong vài khoảnh khắc tôi bướng bỉnh muốn hiểu được điều ẩn mật này; nhưng chẳng mấy chốc sự Dửng Dưng không cưỡng nổi đổ ập lên tôi, và tôi cảm thấy mình bị đè nặng còn hơn chính họ đang bị những con Quái vật kia đè bẹp trên lưng.


















Saturday, October 29, 2016

Một tên hề

 
Un plaisant
Một tên hề
    C’était l’explosion du nouvel an : chaos de boue et de neige, traversé de mille carrosses, étincelant de joujoux et de bonbons, grouillant de cupidités et de désespoirs, délire officiel d’une grande ville fait pour troubler le cerveau du solitaire le plus fort.

    Au milieu de ce tohu-bohu et de ce vacarme, un âne trottait vivement, harcelé par un malotru armé d’un fouet.

    Comme l’âne allait tourner l’angle d’un trottoir, un beau monsieur ganté, verni, cruellement cravaté et emprisonné dans des habits tout neufs, s’inclina cérémonieusement devant l’humble bête, et lui dit, en ôtant son chapeau : « Je vous la souhaite bonne et heureuse ! » puis se retourna vers je ne sais quels camarades avec un air de fatuité, comme pour les prier d’ajouter leur approbation à son contentement.

    L’âne ne vit pas ce beau plaisant, et continua de courir avec zèle où l’appelait son devoir.

    Pour moi, je fus pris subitement d’une incommensurable rage contre ce magnifique imbécile, qui me parut concentrer en lui tout l’esprit de la France.
Năm mới bùng vỡ: cuộc hỗn mang của bùn và tuyết, nghìn cỗ xe chạy qua, chói lọi đồ chơi, kẹo bánh, lúc nhúc ham hố và tuyệt vọng; đó là cơn cuồng chính thống của một thành phố lớn, được tạo ra để làm rối trí ngay cả một tay cô độc cự phách bậc nhất.

Giữa cơn hỗn loạn và huyên náo này, một con lừa chạy bon bon, bị một tên nài thô lỗ cầm roi thúc quật tới tấp.

Lúc con lừa vừa quẹo ngay góc một vỉa hè, một cha nội sang trọng đeo gant, bóng lưỡng, cổ thắt cà vạt khủng khiếp và bị bó rọ trong bộ đồ mới toanh; trước con lừa hèn mọn, hắn cúi mình một cách rất ư là kiểu cách, bỏ mũ ra và nói: "Tôi xin chúc ông năm mới tốt lành và hạnh phúc!", rồi quay về phía mấy tên bạn nào đó với một vẻ hợm hĩnh, ý như muốn yêu cầu bọn họ biểu đồng tình thêm vào cái lòng tự mãn thích thú của hắn ta.

Con lừa không nhìn thấy tên hề hay ho nọ, tiếp tục chạy hăng say theo tiếng gọi của bổn phận.

Tôi bỗng nổi cơn tam bành lục tặc vô bờ với tên hề lố bịch tuyệt trần. Tôi thấy cả con người hắn đúng là nơi kết tụ toàn bộ tinh thần Pháp quốc.













Saturday, April 18, 2015

Bài kinh thú tội của nhà nghệ thuật

 
Le Confiteor de l’artiste
Bài kinh thú ti ca nhà ngh thut
Que les fins de journées d’automne sont pénétrantes ! Ah ! pénétrantes jusqu’à la douleur ! car il est de certaines sensations délicieuses dont le vague n’exclut pas l’intensité ; et il n’est pas de pointe plus acérée que celle de l’Infini.

Grand délice que celui de noyer son regard dans l’immensité du ciel et de la mer ! Solitude, silence, incomparable chasteté de l’azur ! une petite voile frissonnante à l’horizon, et qui par sa petitesse et son isolement imite mon irrémédiable existence, mélodie monotone de la houle, toutes ces choses pensent par moi, ou je pense par elles (car dans la grandeur de la rêverie, le moi se perd vite !) ; elles pensent, dis-je, mais musicalement et pittoresquement, sans arguties, sans syllogismes, sans déductions.


Toutefois, ces pensées, qu’elles sortent de moi ou s’élancent des choses, deviennent bientôt trop intenses. L’énergie dans la volupté crée un malaise et une souffrance positive. Mes nerfs trop tendus ne donnent plus que des vibrations criardes et douloureuses.


Et maintenant la profondeur du ciel me consterne ; sa limpidité m’exaspère. L’insensibilité de la mer, l’immuabilité du spectacle, me révoltent… Ah ! faut-il éternellement souffrir, ou fuir éternellement le beau ? Nature, enchanteresse sans pitié, rivale toujours victorieuse, laisse-moi ! Cesse de tenter mes désirs et mon orgueil ! L’étude du beau est un duel où l’artiste crie de frayeur avant d’être vaincu.
Nhng bui cuối ngày thu sao mà thẩm thấm lòng người! Ôi chao! thấm đẫm đến đớn đau! bởi vì có những cảm nhận dịu dàng đê mê — dù thật mơ hồ; và không có mũi nhọn nào sắc bén hơn cái mũi nhọn của Vô hạn!

Êm ái đê mê biết bao, đắm mắt nhìn trong mênh mông của trời và biển! Cô liêu, tĩnh lặng, trong trắng vô ngần — khung xanh! một cánh buồm nhỏ run rẩy cuối chân trời, nhỏ nhoi và đơn chiếc — hệt như cuộc hiện-hữu-của-tôi-vô-phương-cứu-chữa, như dòng nhạc đơn điệu của sóng nước miên man, tất cả những thứ đó tơ tưởng vì tôi, hay là chính tôi tơ tưởng qua chúng nó (bởi vì trong cái Lớn của mộng, cái Tôi tan biến rất mau!); tôi bảo rằng những thứ đó tư tưởng, nhưng thật ra trên lãnh vực âm nhạc và hội họa, hoàn toàn không có sự biện bạch, lí luận, suy diễn nào cả.

Tuy nhiên, những suy tưởng này, dù đến tự tôi hoặc tự bùng ra từ sự vật, chẳng mấy chốc sẽ trở nên quá mãnh liệt. Năng lực trong khoái cảm tạo ra một trạng thái bần thần và một nỗi đau đích thực. Các dây thần kinh của tôi căng thẳng đến độ chỉ còn biết rung lên những tiếng kêu thống thiết.

Giờ đây chiều sâu bầu trời làm tôi sửng sốt; cái trong vắt của nó làm tôi bứt rứt. Bin trơ trơ, quang cảnh ù lì khiến tôi muốn nổi loạn... A, cứ phải muôn đời đau khổ, hoặc mãi mãi chạy trốn cái Đẹp hay sao? Này Thiên nhiên — nữ thần diễm ảo không nhân nhượng, đối thủ luôn luôn chiến thắng, hãy để ta yên! Thôi chớ khêu gợi lòng ham muốn và tánh kiêu căng của ta! Nghiên cứu cái Đẹp là một trận đấu tay đôi — trong đó nhà nghệ thuật hét lên một tiếng kinh hoàng trước khi thất thủ.













Thursday, April 16, 2015

Niềm tuyệt vọng của bà cụ già



Le Désespoir de la vieille
Niềm tuyệt vọng của bà cụ già
La petite vieille ratatinée se sentit toute réjouie en voyant ce joli enfant à qui chacun faisait fête, à qui tout le monde voulait plaire ; ce joli être, si fragile comme elle, la petite vieille, et, comme elle aussi, sans dents et sans cheveux.

Et elle s’approcha de lui, voulant lui faire des risettes et des mines agréables.


Mais l’enfant épouvanté se débattait sous les caresses de la bonne femme décrépite, et remplissait la maison de ses glapissements.


Alors la bonne vieille se retira dans sa solitude éternelle, et elle pleurait dans un coin, se disant : — « Ah ! pour nous, malheureuses vieilles femelles, l’âge est passé de plaire, même aux innocents ; et nous faisons horreur aux petits enfants que nous voulons aimer ! »
Bà cụ già bé choắt nhăn nheo cảm thấy rất mực sung sướng khi trông thấy đứa bé xinh xắn này mà ai cũng trầm trồ khen ngợi, mà ai cũng muốn chiều lòng; cái vật thể xinh đẹp ấy, cũng yếu ớt như bà, bà cụ già, và, cũng giống như bà, nó không có răng và không có tóc.

Và bà cụ lại gần nó, định mỉm cười với nó và làm ra vẻ tươi tắn dễ thương.


Nhưng đứa bé bỗng kinh hoảng dẫy dụa dưới bàn tay ve vuốt của người đàn bà  lọm khọm, và nó khóc thét lên vang dội cả căn nhà.


Thế là bà cụ già lại lui về với nỗi cô đơn muôn thuở của mình, và sụt sùi trong một xó nhà, tự nhủ rằng: — "Ôi chao! cho bọn mình những mụ già khốn khổ, đã qua rồi cái tuổi biết quyến rủ làm say mê kẻ khác, dù là những đứa bé ngây thơ cũng thế; và bây giờ chúng ta lại làm kinh sợ cả những đứa bé con mà chúng ta yêu mến!"



























Kẻ lạ



L'étranger
Kẻ lạ
"Qui aimes-tu le mieux, homme énigmatique, dis ? ton père, ta mère, ta soeur ou ton frère ?
– Je n'ai ni père, ni mère, ni soeur, ni frère.
– Tes amis ?
– Vous vous servez là d'une parole dont le sens m'est resté jusqu'à ce jour inconnu.
– Ta patrie ?
– J'ignore sous quelle latitude elle est située.
– La beauté ?
– Je l'aimerais volontiers, déesse et immortelle.
– L'or ?
– Je le hais comme vous haïssez Dieu.
– Eh! qu'aimes-tu donc, extraordinaire étranger ?
– J'aime les nuages... les nuages qui passent... là-bas... là-bas... les merveilleux nuages !"
"Ngươi yêu ai nhất, ô hỡi người bí ẩn, nói đi? cha ngươi, mẹ ngươi, chị em ngươi hay là anh em ngươi?
– Ta không có cha, mẹ, chị em, hay anh em nào cả.
– Bạn bè ngươi?
– Ông nói một lời mà ý nghĩa đến giờ hết sức xa lạ đối với tôi.
– Quê hương ngươi?
– Tôi chẳng biết tọa độ của nó ở đâu.
– Cái Đẹp?
– Ta hẳn sẽ yêu, nếu như trên đời có một nàng tiên vĩnh cửu.
– Vàng chăng?
– Ta thù ghét nó như ông thù ghét Thượng Đế.
– Hê! Vậy thì ngươi yêu cái gì, hỡi kẻ lạ khác thường?
– Ta yêu những cụm mây... những cụm mây đang bay... kia kìa... kia kìa... ôi, những cụm mây tuyệt vời!"